Thursday, June 21, 2007

The Ten Commandments for Drivers

Theo bản tin AP, ngày 19 tháng 6 năm 2007, Văn Phòng Toà Thánh về Mục Vụ Di Dân và Người Lưu Động (Office for Migrants and Itinerant People) công bố văn kiện "Những Đường Hướng Mục Vụ Thành Phố", và trong đó có 10 Điều Răn dành cho cac tài xế.

The "Drivers' Ten Commandments, " as listed in the document, are:

1. You shall not kill. [Chớ Giết Người]

2. The road shall be for you a means of communion between people and not of mortal harm. [Đường lộ là phương tiện giao tiếp giữa người với người, chứ không phải để gây nguy hại thể xác và chết chóc]

3. Courtesy, uprightness and prudence will help you deal with unforeseen events. [Lịch sự, đàng hoàng, và cẩn trọng giup bạn đối phó với những tình huống không lường trước được.]


4. Be charitable and help your neighbor in need, especially victims of accidents. [Có lòng bác ái và sẵn lòng tương trợ những người xung quanh trong cơn nguy cấp, đặc biệt các nạn nhân giao thông]


5. Cars shall not be for you an expression of power and domination, and an occasion of sin. [Xe cộ không phải là phương cách biểu dương quyền lực, áp đảo và nơi gây tội lỗi]


6. Charitably convince the young and not so young not to drive when they are not in a fitting condition to do so.
[Nên tử tế thuyết phục những bạn trẻ và những người khác đừng nên lái xe khi họ không trong điều kiện phù hợp để điều khiển xe cộ]

7. Support the families of accident victims. [Hãy tận tình cứu tế, trợ giúp gia đình các nạn nhân giao thông]

8. Bring guilty motorists and their victims together, at the appropriate time, so that they can undergo the liberating experience of forgiveness. [Vào lúc thích hợp, hãy tạo điều kiện cho những người gây tai nạn và nạn nhân đến với nhau để có thể tha thứ cho nhau]

9. On the road, protect the more vulnerable party. [Bảo vệ kẻ yểm thế trên đường]

10. Feel responsible toward others. [Có tinh thần trách nhiệm với người khác]

Sứ điệp Hoà Bình Thế Giới 2008

“Gia đình nhân loại, cộng đồng của hòa bình”

Roma, ngày 19/6/2007 (Zenit) - “Gia đình nhân loại, cộng đồng của hòa bình” : là chủ đề đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI chọn cho sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 41, được mừng vào ngày đầu năm dương lịch 1/1/2008.Theo tin Tòa Thánh Vatican « đề tài được Đức Thánh Cha chọn dựa vào xác tín rằng việc nhận thức về định mệnh chung và kinh nghiệm về sự đồng tâm chính là những yếu tố căn bản để thực hiện công ích và để xây dựng hòa bình cho nhân loại »« Nhìn nhận rằng mối hiệp nhất của gia đình nhân loại quả thực hơn bao giờ hết chính là thiên ý trong chính giây phút lịch sử hiện nay, khi mà các tổ chức quốc tế và đang bị khủng hoảng và trước những hiểm họa đang xẩy ra hiện nay mà cộng đồng quốc tế đang băn khoăn lo lắng. Mỗi người, mỗi dân tộc được mời gọi để sống và tự cảm nhận được rằng mình thuộc về gia đình nhân loại đã được Thiên Chúa tác thành như một cộng đồng của hòa bình ! »Cũng như Công Đồng Vatican II đã xác định : « Quả vậy, mọi dân nước làm nên một cộng đồng. Tất cả mọi dân tộc có cùng một cội nguồn, bởi vì Thiên Chúa đã làm cho mọi nòi giống định cư trên khắp mặt đất (Tuyên ngôn Nostra aetate 1,2). Chính vì vậy mà Công Đồng đã xác nhận : « Mọi nhóm phải để tâm đến nhu cầu và những khát vọng chính đáng của các nhóm khác, và hơn nữa phải quan tâm đến công ích của toàn thể gia đình nhân loại » (Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 26) « Nếu nhân phẩm của con người đã được tác tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa và đã được mạc khải trong Cựu Ước, thì sự hiệp nhất của nòi giống nhân loại chính là một trong các chân lý tinh hoa nhất của Kitô giáo ».Thông báo cũng ghi nhận thêm mối liên hệ giữa hai thông điệp hòa bình đầu tiên của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI với thông điệp hòa bình năm 2008 : « Đề tài : “Gia đình nhân loại, cộng đồng của hòa bình” khai triển một cách mạch lạc và ăn khớp với suy tư của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong các sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2006 : « Hòa bình trong chân lý » và năm 2007 : « Nhân vị, trọng tâm của hòa bình ».Chính Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã ban hành sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới đầu tiên do chính Ngài sáng lập vào năm 1968. Từ năm 1968 đến 1978, có tất cả 11 sứ diệp Ngày Hòa bình thế giới trong triều đại của Ngài.Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã thiết lập Ngày Hòa Bình Thế Giới để gửi đến « tất cả những người bạn yêu mến hòa bình » : « Đề nghị tận hiến cho hòa bình ngay từ ngày đầu tiên của năm mới thực ra, theo thiển ý của tôi, không hoàn toàn thuộc về tôn giáo và công giáo. Đề nghị này muốn được tất cả mọi bạn hữu đích thực của hòa bình tham gia, như là một sáng kiến của chính họ. Đề nghị này phải được diễn đạt theo các hình thức tự do, thích hợp với cá tính đặc biệt của mỗi cá nhân, khi mỗi người hiểu được rằng mọi tiếng nói trên thế giới đều một lòng một ý để tán dương sự thiện ích căn bản chính là hòa bình thì thật cao đẹp và khẩn thiết biết bao ! »Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã ban hành cả thảy 27 sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới từ năm 1979 đến 2005, trong triều đại của Ngài.Cuốn sách của Đức Cha Olivier De Berranger, giám mục giáo phận Saint.Denis với đề tựa : « Hòa bình sẽ là chữ cuối cùng của lịch sử » (do nhà xuất bản Parole et Silence, 2001) đã có công thu thập các tinh hoa của gia tài hòa bình kể từ thông điệp « Pacem in terris » (Hòa bình trên thế giới) của Đức Giáo Hoàng Gioan XXII, xuyên qua tiếng kêu cứu cầ Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ở Liên Hiệp Quốc : « Sẽ không bao giờ còn chiến tranh nữa ! » và cuộc gặp gỡ Assisi vào năm 1986, cũng xuyên suốt với sợi chỉ hồng của mối Phút Thật : « Phúc cho ai biết xây dựng hòa bình ».
Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu

ANH EM BẢO THẦY LÀ AI?

Một cậu bé 15 tuổi đang cùng bố mình lái xe đi ngang qua một phi trường bé xíu tại một thị trấn nhỏ vùng Ohio, thình lình một chiếc phi cơ đang bay rất thấp mà người lái không còn kiểm soát được nữa nên chúi mũi xuống đường. Thấy thế cậu bé liền hét lên:
- Bố ơi, bố ơi! dừng lại ngay!

Vài phút sau, cậu ta lôi chàng phi công ra khỏi chiếc phi cơ. Đó là một chàng sinh viên tập lái, 20 tuổi, đang thực tập cất cánh và hạ cánh phi cơ. Chàng thanh niên ấy đã chết trong tay cậu bé. Ngay khi về đến nhà cậu bé vừa nhảy đến ôm mẹ vừa khóc vừa nói:

- Mẹ ơi! Anh ấy là bạn con! Anh ấy mới chỉ hai mươi tuổi thôi!
Đêm đó cậu bé vẫn còn bị khủng hoảng tinh thần nên không ăn uống gì được. Cậu liền về phòng, đóng cửa và leo lên giường nằm. Lúc đó cậu đang làm việc ngoài giờ trong một tiệm bán tạp hoá. Kiếm được đồng nào cậu liền dành dụm để học lái máy bay. Mục đích cậu nhắm là lấy cho được bằng lái máy bay vào năm 16 tuổi. Bố mẹ cậu lo lắng không hiểu thảm kịch trên có ảnh hưởng gì đến đứa con mình không. Cậu ta sẽ nghỉ học bay hay vẫn cứ tiếp tục? Họ đồng ý để cho cậu bé hoàn toàn quyết định. Hai ngày sau mẹ cậu mang bánh buýt qui lên phòng cho cậu. Nhìn vào ngăn kéo tủ bà thấy có một quyển vở mở trang. Đó là quyển vở cậu bé còn giữ lại từ hồi thơ bé. Ngay trang đầu bà đọc thấy hàng chữ hoa: “ĐỨC TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU”. Và phía bên dưới cậu liệt kê một lô những đức tính sau đây:

“Chúa Giêsu không hề phạm tội.
Ngài sống khiêm nhường và nâng đỡ người nghèo khổ;
Ngài không ích kỷ, Ngài gần gũi Thiên Chúa….”

Bà mẹ nhìn thấy trong giờ phút quyết định, cậu bé đã biết cầu xin Chúa Giêsu hướng dẫn. Thế là bà quay về cậu bé và nói:
- Con quyết định thế nào về vấn đề học bay?
Cậu bé liền nhìn vào mắt mẹ trả lời:
- Thưa mẹ, con hy vọng rằng mẹ và bố sẽ hiểu cho con, nhưng với ơn Chúa giúp, con sẽ phải tiếp tục học bay

Cậu bé đó chính là Neil Amstrong. Vào ngày 20-7-1969, Amstrong đã trở thành người đầu tiên đổ bộ lên mặt trăng. Đó chính là nhờ ơn Chúa giúp cậu tiếp tục học bay, mặc dù thấy anh bạn mình đã chết vì việc học đó.

*************************

Câu chuyện trên đã trả lời một cách sống động khác thường câu hỏi mà Chúa Giêsu nêu ra trong bài Phúc Âm hôm nay: “Các ngươi cho Ta là ai?” Cậu thiếu niên Neil Amstrong đã không trả lời Chúa Giêsu bằng câu nói: “Ngài là Con Thiên Chúa” hay “Ngài là Đấng Mêsia” hoặc “Ngài là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa”. Amstrong đã trả lời đơn giản hơn nhiều: “Ngài là người biết chăm sóc kẻ khác, là người gần gũi Thiên Chúa”. Nói rõ hơn, Neil Amstrong đã không trả lời một cách thần học cho câu hỏi: “Các ngươi cho Ta là ai?” Amstrong đã đưa ra câu trả lời của riêng mình. Cậu đã nhìn sâu vào tâm hồn mình và mô tả cảm nghiệm về Chúa Giêsu trong cuộc sống riêng tư của cậu.

Mỗi người trong chúng ta cũng phải làm giống như cậu bé Amstrong. Chúng ta cũng phải nhìn sâu trong tâm hồn mình để mô tả cảm nghiệm về Chúa Giêsu trong chính cuộc sống của mình, tức là phải nhìn sâu vào tâm hồn mình trước khi trả lời cho câu hỏi của Chúa Giêsu: “Các ngươi cho Ta là ai?”. Và cảm nghiệm này mang tính riêng tư không giống ai. Chẳng hạn đối với một số người trong chúng ta, Chúa Giêsu là Đấng chúng ta có thể chạy đến cầu xin hướng dẫn mỗi khi chúng ta gặp bối rối. Đối với một số khác, Chúa Giêsu là Đấng ban sức mạnh mỗi khi gặp thử thách; đối với số người kia, Chúa Giêsu là Đấng an ủi khi buồn phiền.

Từ đó, chúng ta bước sang phần sau của bài Phúc Âm hôm nay. Nếu phần đầu bài Phúc Âm nêu câu hỏi: “Chúng ta cho Chúa Giêsu là ai?” thì phần sau lại nêu câu hỏi ngược lại: “Chúa Giêsu thấy chúng ta là người như thế nào? Ngài xếp chúng ta vào loại người nào?” Ngài đã từng tuyên bố: “Nếu ai muốn theo Ta, hãy vác thánh giá mỗi ngày mà theo Ta” những lời này đòi buộc chúng ta tự vấn chính mình. “Chúa Giêsu nghĩ gì về chúng ta? Ngài có xếp chúng ta vào số các môn đệ Ngài không?” Nói cách khác, chúng ta có vác thánh giá hàng ngày bước theo Chúa Giêsu không? Chúng ta có sẵn sàng phục vụ kẻ khác như Chúa đã phục vụ chúng ta không? Chúng ta có sẵn sàng nâng đỡ tha nhân khi họ gặp thử thách không? Và khi gặp bối rối, âu lo, kẻ khác có thể nhờ chúng ta chỉ đường dẫn lối cho không?

Tóm lại, bài Phúc Âm hôm nay đặt ra cho chúng ta hai câu hỏi quan trọng. Chúa Giêsu là ai trong đời chúng ta? Và chúng ta là ai dưới con mắt của Chúa Giêsu? Mỗi người chúng ta phải tự mình trả lời cho hai câu hỏi trên.

*********************************
Để kết thúc, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện sau đây lên Chúa Giêsu. Lời nguyện này do một Kitô hữu vô danh viết ra cách đây gần 1500 năm.:


Lạy Chúa!
Xin hãy là ngọn lửa bừng sáng trước mắt con,
xin hãy là vì sao dẫn lối trên đầu con,
Xin hãy là lối đi êm ái dưới chân con,
xin hãy là mục tử nhân từ đằng sau con,
Xin mãi mãi là như thế đối với con:
Hôm nay – đêm nay – và muôn đời muôn kiếp.

Theo Lm Mark Link S.J.

Sunday, June 17, 2007

Cho Con Cách Sống

Nếu sống trong la mắng
Con sẽ học lời hư.
Và nếu hay cãi lại
Con bắt chước ngay mà.

Nếu sống trong bạo lực
Con ngược ngạo theo ngay,
Mới hay mầm thù nghịch
Dễ gieo lòng thơ ngây.

Nếu hay bị chê cười
Con tự ti, nhút nhát.
Ngày mai này lớn lên
Sao tự tin, thành đạt?

Nếu nặng lời nhục mạ
Con mặc cảm lỗi lầm,
Điều hay dở khó phân
Dễ sa đường lầm lạc.

================

Nếu cho con khoan dung
Con học lòng kiên nhẫn.
Cho con lời khích lệ
Con thêm phần tự tin.

Một lời khen đúng lúc
Con thấy mình lớn hơn.
Luôn nói điều ngay thẳng
Con học sự liêm trinh.

Che chở bởi yêu thương
Giúp con lòng nhân hậu.
Tập cho con khuôn phép
Con tự chủ bản thân.

Lòng tin và thương mến
Sẽ cho con mọi điều ...

Nguyễn Hồng Uy phỏng dịch

Monday, June 11, 2007

TÌNH YÊU LÀ GÌ ???

Một buổi trưa nọ, một thanh niên trẻ cùng cô bạn gái thân bước vào một quán nước ven đường. Sau khi người phục vụ đặt hai cốc nước trắng lên bàn và đợi order thì cô gái chợt đặt ra một câu hỏi:

- Đố anh biết "Tình Yêu" là gì?

Dùng kế hoãn binh, anh thanh niên mỉm cười quay sang cô phục vụ và nói:
- Xin cô cho tôi một ấm trà, một cốc cà fê đen, một cốc cà fê sữa, một ly rươu vang và một ly Sâm-panh.

Sau khi mọi thứ đã được mang ra, chàng trai lấy ấm trà và uống chén đầu tiên. Anh ta nói:- Tình yêu như ấm trà này. Khi ta uống nước đầu sẽ rất đậm đà, nước thứ hai sẽ dìu dịu thanh thanh. Còn nươc thứ ba thì sao?... Oh, vậy Tình yêu không như ấm trà này bởi sau nước thứ ba ấm trà sẽ không còn hương vị ban đầu.

Anh ta lại nhấp một ngụm cà fê đen và nói:- Tình yêu mang hương vị của cốc cà fê này, lúc đầu có thể phải trải qua vị đắng nhưng dần dần vị ngọt và thơm sẽ ngấm dần vào mỗi người.

Rồi anh thử ly cà fê sữa:- Nhưng tình yêu không như cốc cà fê sữa. Uống cà fê sữa ta sẽ cảm thấy ngay vị ngọt, vị ngọt của nó đến rất nhanh và đi rất nhanh. Còn tình yêu không như vậy.

Dứt lời anh ta đổ cốc cà fê ấy đi, và thử tiếp ly rượu vang, rồi nói:- Tình yêu như ly rươu này, nó thật nồng nàn, ấm áp và êm đềm.

Còn ly Sâm-panh cuối cùng, Anh ta nhấm vài giọt vào cổ và thốt rằng:- Không! Tình yêu không thể là thứ nước khai vị chua loét này được.

Lúc này, chàng thanh niên trẻ luống cuống nhìn quanh vì không tìm được câu trả lời cho người bạn gái xinh xắn dễ thương ngồi đối diện. Bất chợt anh ta nhìn thấy cốc nước lã trắng trên bàn. Anh ta chợt reo lên: Đúng rồi, hãy nhìn cốc nước kia, nó thật tinh khiết và giản dị. Rượu, cà fê và trà cũng phải bắt nguồn từ nước. Tình yêu cũng giống như thế: cái nồng nàn, ngọt ngào, êm đềm và cay đắng cũng phải xuất phát từ lòng chân thành và những điều giản dị nhất. Tình yêu là cốc nước trắng!

Cô gái ngồi im, đôi mắt mở to. Và rồi cô từ từ nhấc ly nước lên và từ từ đặt vào tay chàng trai.Chàng thanh niên đã hiểu rằng, anh ta đã có một câu trả lời đúng ...

Suy Tư Nhân Ngày Hiền Phụ

Cái Bát Gỗ
(Bùi Hữu Thư dịch)

Tôi cam đoan bạn sẽ nhớ được câu chuyện của cái bát gỗ này vào ngày mai, tuần tới, tháng tới hay năm tới nữa.

Một ông già gầy yếu phải dọn đến ở chung với con trai, con dâu và một đứa cháu nội lên 4 tuổi. Ông già hai tay run rẩy, mắt đã mờ, chân bước không vững. Cả gia đình ngồi ăn chung nơi bàn ăn.

Nhưng người ông lớn tuổi với hai tay lụng cụng và đôi mắt kèm nhèm khiến cho việc ăn uống rất khó khăn. Những hạt đậu rớt từ muỗng xuống sàn nhà. Khi ông với tay lấy ly sữa thì sữa đổ tóe ra khăn bàn.

Người con trai và con dâu rất bực mình vì phải lau chùi dọn dẹp cho ông. Người con trai nói: “Chúng mình phải làm một cái gì để giải quyết vấn đề này. Anh chán ngấy cái vụ ông đánh đổ sữa, ăn uống nhồm nhoàm, và đánh đổ thức ăn trên sàn nhà.”

Do đó hay vợ chồng bàn nhau đặt một cái bàn trong góc phòng. Ở đó, người ông phải ngồi ăn một mình trong khi cả gia đình ăn uống vui vẻ. Vì ông cụ đã đánh vỡ mấy cái đĩa, thức ăn của ông được bỏ vào một cái bát gỗ.

Khi cả gia đình liếc nhìn về phiá ông cụ, đôi khi thấy ông chẩy nước mắt khi phải ngồi một mình. Vậy mà, mỗi khi ông đánh rơi muỗng nĩa hay đánh đổ thức ăn, hai vợ chồng vẫn còn la rầy ông.

Đứa cháu 4 tuổi quan sát mọi sự trong thinh lặng.

Một tối kia, ngay trước bữa ăn, người cha thấy đứa con nghịch với mấy khúc gỗ vụn trên sàn. Anh ta dịu dàng hỏi: “Con đang làm gì vậy?”

Đứa bé cũng trả lời diụ dàng không kém: “Ồ con đang làm một cái bát nhỏ cho ba và mẹ ăn khi con lớn lên.” Nó cười và tiếp tục làm việc.

Những lời nói của đứa trẻ làm cho cặp vợ chồng sững sờ không nói nên lời. Rồi những giọt nước mắt tuôn rơi trên mặt họ. Dù không nói ra lời, cả hai đều hiểu phải làm cái gì.

Tối hôm ấy, người con trai, cầm tay bố và diụ dàng dắt ông cụ trở về bàn ăn của gia đình. Và trong suốt những ngày còn lại của cuộc đời ông cụ được ngồi ăn chung với gia đình. Và từ đó cả chồng lẫn vợ dường như không còn chú ý đến những lúc muỗng niã rơi, sữa bị đổ tràn hay khăn bàn bị dính bẩn.

Điểm son của bài học này là, dù bất cứ cái gì xẩy ra hôm nay có tệ đến đâu, đới sống vẫn tiếp diễn, và ngày mai sẽ tốt đẹp hơn.

Tôi cũng học được rằng chúng ta có thể biết nhiều về một con người qua phản ứng của người này trước bốn điều này: một ngày mưa buồn, người già yếu, mất hành lý, và những giây đèn Giáng Sinh bị vướng mắc.

Tôi đã học được rằng, dù cho bạn có yêu hay không thương yêu cha mẹ bạn, bạn cũng sẽ nhớ tiếc họ, khi họ đã đi ra khỏi cuộc đời của bạn.

Tôi đã học được rằng: kiếm sống trong đời không giống như là tạo dựng một cuộc đời.

Tôi cũng học được rằng, đời sống đôi khi ban cho ta một cơ may thứ hai.

Tôi cũng học được rằng chúng ta không thể nào chỉ biết tìm cách ôm bắt tất cả mọi sự trong đời. Chúng ta cũng phải có thể ném ra và cho đi.

Tôi đã học được rằng: nếu chúng ta theo đuổi hạnh phúc, nó sẽ lẫn tránh ta. Nhưng nếu chúng ta tập trung vào gia đình, bạn bè, vào nhu cầu của người khác, vào công việc của mình và cố gắng làm mọi sự tốt đẹp nhất, thì hạnh phúc sẽ tìm đến với ta.

Tôi đã học được rằng mỗi khi tôi quyết định một điều gì với một trái tim rộng mở, thì tôi thường quyết định đúng đắn.

Tôi đã học được rằng ngay cả khi tôi đang đau đớn, tôi không phải là nỗi đau cho kẻ khác.

Tôi đã học được rằng mỗi ngày qua tôi phải vươn ra và chạm đến một người khác.

Người ta thích những cử chỉ thân thiện - cầm tay, ôm chặt hay chỉ cần một cái vỗ tay vào vai.

Tôi đã học được rằng tôi còn phải học hỏi rất nhiều hơn nữa!

Friday, June 8, 2007

Thiên Chúa là Tình Yêu


1. Tình Yêu thường ước muốn cho đi, đó chính là Sáng Tạo
2. Yêu nhau thường hay kể những bí mật cho nhau, đó chính là Mạc Khải
3. Yêu nhau thường chịu đựng đau khổ cho nhau, đó chính là Cứu Ðộ
4. Yêu nhau thường thích ở bên nhau, đó chính là Phép Thánh Thể
5. Yêu nhau thường thích sống mãi với nhau, đó chính là Thiên Ðàng
6. Yêu nhau thường sẵn sàng tha thứ cho nhau, đó chính là Sự Sống Lại

=================

GOD IS LOVE

1. Love desires to give, that is CREATION
2. Lovers tell secrets to each other, that is REVELATION
3. Love suffers for the beloved, that is REDEMTION
4. Love longs to become one with the beloved, that is EUCHARIST
5. Love yearns to be eternally united with, that is HEAVEN
6. Love is ready to forgive, that is RESURRECTION