Wednesday, March 21, 2007

LÒNG THƯƠNG XÓT

Câu chuyện xảy ra tại một hải đảo thuộc nước Italia, dân chúng qui định: nếu một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, người ta sẽ buộc cổ người đàn bà này vào một tảng đá lớn, và quẳng xuống biển cho chết chìm.

Vào một ngày nọ, có một người đàn bà bị bắt quả tang về tội này, bà sẽ bị xử theo qui định. Nhưng đến ngày xử mà người chồng vẫn còn đang đánh cá ở ngoài khơi, cho nên dân làng phải gia hạn thêm vài ngày nữa. Người ta đã gia hạn nhiều lần nhưng vẫn không thấy người chồng trở về. Cuối cùng, họ phải đưa người đàn bà ấy đến một vùng biển sâu, cột một tảng đá lớn vào cổ bà, rồi đẩy bà xuống nước.

Nhưng lạ lùng thay, hôm sau mọi người đều kinh ngạc thấy người đàn bà xuất hiện trong làng.
Thì ra, người chồng đã hay biết tất cả những gì xảy ra cho vợ mình. Thay vì trở về chứng kiến bản án khắc nghiệt, ông ta tìm cách ở lại ngoài khơi, với hy vọng kéo dài cuộc sống cho vợ. Và đến ngày xử án, ông đã đến núp sau một ghềnh đá lớn. Khi người ta vừa ném bà xuống biển, ông đã đến đón lấy bà, tháo gỡ tảng đá ra và đưa bà về nhà.

********************************
Câu chuyện này gợi lại cho chúng ta phiên tòa xét xử người phụ nữ ngoại tình của những người không có lòng xót thương. Họ hí hửng khi bắt gặp người đàn bà đang phạm tội ngoại tình và dùng bà để đưa Chúa Giêsu vào bẫy. “Thưa Thầy, trong sách Luật, ông Mô-sê truyền dạy chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà này. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Hành động của những ngưòi bắt và tố cáo người phụ nữ này, thoạt nhiên có vẻ như là đang làm chuyện đúng đắn, bảo vệ thuần phong mỹ tục. Nhưng đây chỉ là cái bẫy giăng ra để tìm cách hại Đức Giê-su. Này nhé, chiếu theo luật Mô-sê, thì người ngoại tình và tòng phạm phải xử tử bằng hình phạt ném đá (Lv 20: 10, Đnl 22:22-24). Nhưng theo luật của chính quyền thống trị Rô-ma thì người Do thái không có quyền lên án tử hình.

Vậy, nếu Đức Giê-su đồng ý với các kinh sư và luật sĩ, thì ngài sẽ gặp rắc rối với chính quyền Rô-ma. Còn nếu ngài không tuyên án, thì ngài bị coi là một vị thầy rab-bi giả hiệu, vì hễ là rab-bi chân chính thì đương nhiên chẳng phá Luật . Nhóm chống đối Đức Giê-su rất hả hê vì họ nắm chắc phần thắng. Đằng nào cũng chết. Ra lệnh ném đá thì bị mang tiếng là bất nhân bất nghĩa, nói một đàng làm một nẻo. Còn tha bổng thì lại là bất trung bất tín, đi ngược lại với giáo huấn của Mô-sê. Giữa luật Rô-ma và luật Mô-sê, ngài phải chọn đường nào?

Đúng là một chiếc ná bắn hai con chim. Người phụ nữ bị bắt chẳng qua chỉ là cái cớ để họ xét xử Đức Giê-su. Đức Giê-su chẳng buồn đáp lại câu hỏi khiêu khích của họ. Ngài im lặng cúi xuống viết trên đất. Viết những gì? Có người cho rằng, Đức Giê-su đã vạch tội của họ trên nền đất. Người khác nghĩ rằng, Đức Giê-su im lặng ngồi vẽ lung tung là thờ ơ với âm mưu của họ.

Dù sao, sự im lặng này làm tất cả mọi người đều hồi hộp. Rõ ràng là Đức Giê-su đang tỏ thái độ bất hợp tác. Vì họ cứ hỏi mãi, nên ngài ngẩng đầu lên và bảo : “Ai trong các ông sạch tội, cứ lấy đá ném chị này trước đi!” Và rồi chuyện kể rằng, mọi người lần lượt bỏ đi, đám đông tự giải tán.

********************************
Chỉ có hai cách để trả lời câu chất vấn của Đức Giê-su. Một là nhận lỗi và xin tha thứ. Hai là lẳng lặng rút lui. Vì đám đông không dám hoặc không muốn đối diện với tình trạng tội lỗi của mình, họ đã từng người một quay lưng bỏ đi. Họ không có lòng thương xót người phụ nữ lầm lỡ nên họ đã mất đi một cơ hội chứng kiến lòng xót thương của Đức Giê-su. Thánh Âu-tinh nhận xét : Tất cả những kẻ tố cáo đều rút lui. Chỉ còn lại hai người : một con người yếu hèn và một Đấng đầy lòng thương xót.

Đúng ra họ nên ở lại. Người phụ nữ đã ở lại, và chị nhận được lòng thương xót. Đức Giê-su, với sự cảm thông cho thân phận yếu hèn của con người, đã ban cho chị ơn tha thứ và bình an. Người phụ nữ không phải là vô tội. Đúng theo Luật, chị đáng phải chết. Nhưng Đức Giê-su không xử với chị bằng lý, nhưng bằng tình : “Chị về đi; từ nay đừng phạm tội nữa!” Chính cách đối xử nhân ái đầy tình người đó đã động viên chị và cho chị một khởi đầu mới.

Hình phạt có thể làm người ta sợ. Công lý có thể làm cho người ta e dè. Nhưng chỉ có tình thương mới biến đổi phận ngưòi. Chỉ có lòng thương xót cảm thông mới cho con người động lực đứng lên sau bao lần quỵ ngã. Đức Giê-su đã dùng tình thương chứ không phải công lý để cảm hóa người phụ nữ kia, cũng như ngài đã từng làm với Za-kêu, với Lê-vi, và bao người tội lỗi khác. Ngài đã nhìn họ với ánh mắt xót thương, thông cảm, chứ không phải bằng ánh mắt xét nét, bắt bẻ.

Ngoại trừ Đức Giê-su, chẳng ai có tư cách để ném đá người phụ nữ kia. Thế nhưng, ngài đã chọn để gánh lấy tội của người phụ nữ ngoại tình, và chết thay cho chị trên thập giá. Ngài cũng chọn để gánh lấy tội của bạn và tôi, và tha bổng cho chúng ta bằng chính giá máu của ngài. Ôi tình yêu cao cả! Ôi lòng thương xót tuyệt vời!

Ước gì chúng ta biết chạy đến cùng Giê-su trong sự vấp ngã của chúng ta. Ước gì lòng thương xót của ngài thay đổi cuộc sống chúng ta. Ước gì sự thông cảm của ngài là động lực giúp chúng ta vươn lên, vượt thắng cám dỗ và tội lỗi.

********************************
Lạy Chúa, tất cả chúng con cũng như người phụ nữ này. Tất cả là những người tội lỗi không có tư cách cầm đá ném kẻ khác. Xin tha tội chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con. Xin Chúa thanh tẩy chúng con trong tình thương của Ngài để chúng con một lần nữa được thoát khỏi ràng buộc của tội lỗi và có sức mạnh để chống trả cám dỗ. Xin đổi mới trái tim chúng con để chúng con biết xót thương nâng đỡ anh em mình như Chúa đã thương xót chúng con. Amen!

Antôn Bảo Lộc

Đỉnh Trời Yêu Thương

Đạo Làm Con (Tường Nguyên)

Tuesday, March 20, 2007

ĐÀN ÔNG LÀ ĐẤT - ĐÀN BÀ LÀ NƯỚC

“Đàn ông làm bằng đất, đàn bà làm bằng nước. Người đàn ông bằng đất yêu người đàn bà bằng nước, nước và đất trộn lẫn với nhau, đàn ông nhờ cái thuần khiết của nước mà trở nên sạch hơn, người phụ nữ, thì ngược lại, bị trộn lẫn với đất nên bị vấy bẩn ”.

(Tào Tuyết Cần trong Hồng Lâu Mộng)

Người phụ nữ tốt, sẽ như nước sạch, có thể làm trôi đi bụi bặm nơi người đàn ông, tương tự như dòng nước chảy qua bờ đất, sẽ cuốn đi mọi rác rưới bên bờ nhưng vẫn giữ được sự trong xanh của mình. Ngược lại, nếu người nữ dã tâm, dùng nhan sắc để khuynh đảo đối tượng, để kinh doanh cái “vốn tự có” của mình, thì nhất định sẽ bị vấy bẩn bởi đất, chẳng khác gì, đất trộn với nước thành bùn vậy. Nhiều phụ nữ, hôm nay, dùng sắc đẹp làm giấy ra vào các công sở, cửa khẩu. Những phụ nữ đó, giả dụ có bị dẫn độ vào tù, cùng hạng với những ông tội phạm bẩn thỉu, thì cũng chẳng nên kêu ca. Đã dùng lẳng lơ để mồi ông này, chào hàng ông kia. Chào hàng ngoài đường chán chê, bây giờ lại bày bán trên cả Webcam. Sau này nếu “Hết duyên đi sớm về khuya một mình”, hoặc như trái banh, bị đá qua chân ông này, sang chân ông kia … thì chẳng nên than thở: “Hồng nhan bạc mệnh”, hoặc chửi rủa đàn ông:

“Chém cha cái lũ bạc tình,

Chơi hoa cho chán bẻ cành bán rao”.

Bởi vì, có kẻ bán là có kẻ mua, nếu hết người bán, thì người mua có muốn, cũng hết đường. Ong Chu Du muốn thi hành nhục kế để lừa Tào Tháo, trong trận chiến Xích Bích. Ong Hoàng Cái lại muốn nhận vai khổ nhục, chấp nhận để ông Chu Du đánh đòn nát da, nát thịt. Sau đó, chạy sang giả hàng Tào Tháo, để làm nội công. Trong chốn chợ tình cũng tương tự thế, một kẻ muốn bán, một kẻ muốn mua, tám cân nửa lạng, thì kêu ca cái gì. Một ông Chu Du muốn đánh, một ông Hoàng Cái muốn chịu đòn, ăn ý nhau quá thì còn kêu vào đâu được.

Dùng nhan sắc để rao bán thì vừa hạ thấp phẩm cách của phụ nữ, vừa tự đặt mình như miếng mỡ đặt trước miệng mèo. Mỡ đặt trước miệng mèo, mà mèo cứ lờ đi thì mèo đó chắc bệnh rồi.

Tôi đã có dịp dàn xếp một cặp trai gái. Hai bên quan hệ quá mức bình thường, đến độ cô gái đã có bầu 5 tháng. Chàng trai ngoan cố, không chịu hợp thức hóa và thốt ra câu nói “Xanh rờn”: “Thưa cha, đó chỉ là trường hợp mỡ trước miệng mèo”.

Phụ nữ mà coi sắc đẹp như bửu bối, thì họ quả thực chỉ là chiếc máy ở chế độ “Chờ”. Và như thế, họ đã tự đánh mất mình, trở thành công cụ thỏa mãn dục vọng cho người khác.

Trong mái ấm gia đình, nếu đàn bà dính dấp vào những việc trên, gia đình họ làm sao có thể bền vững? Những cuộc hôn nhân mà không đặt cơ sở trên tình yêu chân chính, thì lâu dài và tươi đẹp thế nào được.

Hai vợ chồng, chung một thuyền tình, cần phải biết hợp lực để đưa chiếc thuyền vượt qua sóng gió và bão tố cuộc đời, hầu đến được bến cảng bình yên. Muốn thế, người vợ hãy là dòng nước trong sạch, góp phần sạch hóa chồng mình. Và người chồng cũng cần phải làm như thế với vợ mình.

Anh chị thân thương,

Câu nói của ông Tào Tuyết Cần chỉ nhắm tới một phía, đó là người nữ. Sứ mạng của họ rất quan trọng, đó là thuần khiết chồng mình, nhưng cũng đụng phải rất nhiều nguy cơ, sẽ bị vấy bẩn, vì phải trộn với đất.

Cầu chúc chị có thể hoàn thành nhiệm vụ thuần khiết chồng mình, nhưng vẫn duy trì được độ “trong” của dòng nước. Với sức mạnh trợ giúp của Chúa và ân sủng do Bí tích Hôn phối mang lại, cũng như thần lực của Nhiệm Tích Thánh Thể, tin chắc chị có thể thực hiện được sứ mạng đó.

Phần anh, cũng phải hợp lực với chị, để bảo vệ độ trong của nước. Mọi rác rưới bẩn thỉu, anh hãy để nước cuốn đi, nhưng đừng khi nào đánh mất phẩm giá của mình, là đất vững chắc, để hóa thành bùn, làm vấy bẩn dòng nước. Nếu cả hai đều có thiện ý xây dựng cho nhau, đồng thời cũng thăng tiến chính mình, thì đời đôi bạn của anh chị, quả thực tuyệt vời.

Trích tập sách “ Tình không như la mơ” của Lm. Hồng Nguyên

LUCIA VÀ PAOLO CREPAZ, ĐÔI VỢ CHỒNG QUẢNG ĐẠI

Lucia và Paolo Crepaz là một đôi vợ chồng trẻ người Ý thật tâm đầu ý hợp. Sau 16 năm chung sống, gia đình này có được 6 mặt con đứa nào cũng xinh xắn dễ thương. Bầu khí hạnh phúc đầm ấm của gia đình trẻ đông con này là một ốc đảo xinh tươi hiếm hoi trong sa mạc các cuộc hôn nhân đổ vỡ ngày nay.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Lucia và Paolo xảy ra trong phòng đợi của một nha sĩ tại Trento, Bắc Italia. Paolo khi ấy bị nhức răng nên phải đi nha sĩ chữa. Đến phòng đợi, Paolo chú ý đến cô phụ tá nha sĩ trong phòng mạch. Cô thật xinh tươi nhã nhặn mang tên Lucia. Giữa người trẻ với nhau câu chuyện làm quen thật là dễ dàng và Paolo gần như quên bẵng mất cái răng đau của mình. Càng quen biết, Paolo lại càng cảm thấy bị thu hút mạnh. Người bạn gái mới quen này không giống ai cả. Nàng là một sinh viên y khoa trẻ, chẳng ham ăn chơi chưng diện, nhưng chỉ muốn giúp đỡ người khác. Có mấy tháng nghỉ hè thì chẳng những không tính đến chuyện đi nghỉ đi chơi nơi này nơi khác, lại dành trọn thời gian xin đi làm để lấy lương gửi sang Camerun giúp xây cất một bệnh viện.

Chẳng bao lâu sau, hai người quyết định đính hôn để tiếp tục tìm hiểu nhau. Vốn là một tín hữu công giáo nhiệt thành Lucia cùng bạn hứa sẽ không có quan hệ phái tính trước hôn nhân. Một năm sau ngày đính hôn, Lucia quyết định cùng một nhóm 4 người bạn gái sinh viên y khoa xuống vùng Irpinia, nam Italia, để cứu trợ nạn nhân động đất. Không ngờ quyết định này bị Paolo phản đối mãnh liệt. Chàng dọa sẽ từ hôn nếu Lucia nhất định ra đi. Giáng Sinh gần đến và Paolo không thể nghĩ đến chuyện vui hưởng Giáng Sinh mà không có vị hôn thê bên cạnh. Mặc dầu thế, Lucia nhất quyết thực hiện lời hứa lên đường đi xuống giúp đỡ nạn nhân động đất vùng Irpinia.

Ở lại một mình, Paolo suy nghĩ, không biết có nên tiếp tục tiến tới hôn nhân với một thiếu nữ không đếm xỉa gì đến ý kiến của mình trong một quyết định quan trọng như thế hay không. Chàng bực mình lắm trước quyết định của vị hôn thê. Nhưng rồi giữa những suy tư bực bội đó, một ánh sáng như lóe lên rồi chiếu tỏa tâm trí chàng. Thay vì đặt hôn nhân và cuộc sống chung tương lai trên nền tảng tùy thuộc lẫn nhau, thì lấy tình yêu thương làm nền tảng. Nghĩa là phải làm sao để giúp cho nhau có được cơ hội sống tình yêu thương tha nhân. Paolo hiểu thấu được rằng lòng quảng đại yêu thương của Lucia trong lúc này đối với nạn nhân động đất sẽ được hướng về chồng về con và về tha nhân trong tương lai. Thế là Paolo bật đứng dậy, lên đường đi xuống Irpinia chia sẻ cuộc sống và hoạt động phục vụ với vị hôn thê.

Khi Paolo tìm được việc làm đầu tiên, chàng và Lucia quyết định cử hành lễ cưới. Đôi tân hôn chỉ có căn nhà trơ trụi có giường và bếp. Bàn ăn là những thùng gỗ đựng trái cây trống rỗng, lật úp xuống đất và có tấm ván đậy trên. Mỗi công việc tạm thời đem về cho ngôi nhà một chiếc ghế, một chiếc bàn mới hay một cái tủ khác. Đôi vợ chồng trẻ quyết định sẽ mở rộng lòng đón nhận mọi hồng ân con cái Chúa ban. Cùng với việc làm đầu tiên của chồng, Lucia biết được là đang mang thai đứa con đầu lòng. Francesco chào đời, cùng lúc với một công việc mới cho cha và một việc làm đầu tiên cho mẹ. Sự kiện này một lần nữa bồi đắp thêm lòng tin tưởng cậy trông và phó thác trong tay Chúa của đôi vợ chồng trẻ. Họ sẵn sàng mở cửa đón tiếp mọi người, giúp đỡ mọi người không loại trừ ai. Bất cứ ai cần nơi trú ngụ qua đêm chỉ phải gõ cửa nhà Crepaz là xong. Có ai cần di chuyển, Lucia hay Paolo không hề do dự, sẵn sàng đưa chìa khóa xe ngay.

Thời gian cứ lần lần trôi qua. Gia đình Lucia và Paolo Crepaz có được 6 mặt con. Lucia đã từng được bầu làm Đại biểu quốc Hội Italia thuộc đảng Dân Chủ Kitô và phải về làm việc tại Roma, cách Trento khoảng 600 cây số. Suốt 7 năm trong nhiệm vụ, nàng vẫn bảo vệ được sự hiệp nhất toàn vẹn trong gia đình. Sau hai nhiệm kỳ Đại biểu quốc hội, gia đình Paolo và Lucia được mời về Roma cộng tác với phong trào Nhân Loại mới, một ngành dấn thân trong lãnh vực xã hội của phong trào Tổ Ấm (Focolari). Họ phân vân vì còn gánh nặng gia đình, vì phải từ bỏ công ăn việc làm chắc chắn với đồng lương cao, vì lũ con phải bứng khỏi quê sinh và bạn bè thân thuộc, nhưng rồi lòng tin cậy vào Chúa vẫn mạnh hơn mọi sự vì ”Ai bỏ cha mẹ, con cái ruộng vườn của cải để theo Thầy, thì sẽ được đền bù gấp trăm trên đời này và sẽ được cuộc sống đời đời.” Trước mặt 6 đứa con, hai vợ chồng trịnh trọng hứa là sẽ trở về Trento nếu không nghiệm thực được câu Phúc Âm nói trên.

Về Roma, khởi sự lại từ con số không, gia đình Crepaz vẫn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Một ngày nọ, Stefano, đứa con thứ ba muốn xem một trận đấu banh chỉ được truyền đi trên hệ thống trả tiền mà thôi, nên xin bố mua bộ máy giải code. Paolo bình thản giải thích cho con biết là trong lúc này, gia đình không thể mua được bộ máy nói trên. Stefano không nói gì, nhưng khi ông hàng xóm, biết cậu bé ủng hộ đội banh nói trên nên mời cậu sang xem chung trận đấu, Stefano mừng sáng cả mắt. Tối hôm ấy, trước mặt cả nhà, Stefano nói: ”hôm nay, con hiểu được một điều. Đó là trước đây, chúng ta giàu có. Bây giờ thì có Chúa Quan Phòng.”

Trong những năm chung sống không phải là lúc nào cũng phẳng lặng như mặt hồ. Giữa đôi vợ chồng khắng khít ấy, bí quyết hạnh phúc chính là tình yêu thương chia sẻ: ”hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con”. Họ không hề dấu diếm nhau điều gì nhưng chia sẻ mọi sự với nhau trong niềm yyêu thương và tôn trọng người bạn đời. Dĩ nhiên biết bao lần hai người đã lớn tiếng bàn cãi với nhau về những bất đồng ý kiến trong việc dạy con hay trong những hoàn cảnh khác, nhưng rồi họ đều biết khởi đầu lại mọi sự trong khiêm tốn và trong yêu thương. Mỗi buổi sáng, họ lại dâng hiến cho nhau một con người mới và một tình yêu mới. Lucia nói: Trong thiệp cưới, chúng tôi đã khẳng định rằng ”nếu chúng ta hiệp nhất, thì Chúa Giêsu ở giữa chúng ta”. Trong cuộc sống hôn nhân gia đình của chúng tôi, luôn luôn có Chúa ngự trị và chính Ngài là sợi dây thắt chặt tình yêu giữa vợ chồng con cái chúng tôi. (Una vita, in: Città Nuova, n.17, 1998)

Mai Anh

Vịnh Hạ Long

Part 1/3




Part 2/3




Part 3/3

Saturday, March 17, 2007

Trở Về Cát Bụi