Wednesday, April 16, 2008

Thánh lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha đến Hoa Kỳ bình an (Tues. 15 Apr. 2008)

Con đường dài quanh co dẫn Đức Giáo Hoàng từ Vatican tới tòa Bạch Ốc



Nằm vùi trong đống hồ sơ mật của Tòa thánh Vatican, có một bản báo cáo viết mãi từ năm 1853. Văn bản này là do giám mục Gaetano Bedini, sứ giả đầu tiên của Tòa thánh tại Hoa kỳ, tường thuật một câu chuyện ngài nghe người ta kể lại. Lúc đó ngài đang cử hành thánh lễ tại nhà nguyện Tu hội Mẹ Dâng con, trong vùng Georgetown kế cận Washington. Một phụ nữ Tin lành bước vào nhà nguyện. Người ta hỏi tại sao bà vô đó, bà ngay thật trả lời rằng bà muốn xem có đích xác là các vị chức sắc của giáo hoàng Piô IX có sừng trên đầu hay không.

Vào hôm thứ Ba này, một thế kỷ rưỡi sau câu chuyện kể trên, một vị giáo tông sẽ đi vào tòa Bạch ốc trong cương vị quốc trưởng một nước và là khách quý của tổng thống Hoa kỳ. Sự hiện diện của Đức Bênêđictô XVI đánh dấu một biến cố lịch sử: đây là cuộc viếng thăm chính thức lần đầu tiên kể từ ngày thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hoa kỳ và Vatican 24 năm trước. Trước đây, chỉ có mình Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tới Bạch ốc – ngày 6 tháng 10 năm 1979 – nhưng cuộc viếng thăm tổng thống Carter của ngài không có tính cách chính thức.

Phải đợi hàng mấy thế kỷ mới đi được tới giai đoạn này. Câu chuyện về mối liên lạc giữa giáo hoàng và nước Mỹ được đánh dấu bằng những tranh chấp ngoại giao và tôn giáo, bằng những nỗ lực thất bại khi muốn thiết lập mối quan hệ chính thức. Ngay từ đầu, Vatican coi Tân Thế giới như là “vùng đất truyền đạo”. Giáo hội muốn gieo rắc đức tin Công giáo giữa một dân tộc đang tăng trưởng mau chóng, và thiết lập quan hệ với một quốc gia rõ ràng đang quyết tâm trở thành cường quốc trên thế giới.

Nhưng việc đó không dễ gì. Các linh mục Công giáo thuở ban đầu tại Hoa kỳ giảng thuyết bằng tiếng Latinh hoặc tiếng Pháp và không nói được tiếng Anh. Kết quả là chẳng có bao nhiêu người theo đạo. Đối với người Mỹ lúc đó, Công giáo được coi như là tôn giáo thích hợp cho di dân người Ái nhĩ lan, Ý, Pháp và Ba lan, nhưng không phải cho dân Yankee (Mỹ) chính cống. Tệ hơn nữa, tôn giáo này được coi như đạo của người nghèo. Vatican cũng thất bại không nắm được chiều hướng rộng rãi có cái nhìn giáo hoàng như là nhân vật bí ẩn, đe dọa tự do và nền độc lập của người Mỹ. Năm tháng qua đi, con số người Công giáo Hoa kỳ tăng trưởng dần lên, nhưng Vatican ít có những đột kích nào về chính trị.

Ngày tháng, niên đại có thể làm nhàm chán, nhưng nếu người ta muốn tìm ra những dấu mốc trong lịch sử ngoại giao giữa Hoa kỳ - Vatican, thì ít nhất có ba.

Mốc thứ nhất: năm 1867. Lúc đó, Washington chỉ mới có một “tòa công sứ đặc biệt” tại Roma, không phải là một tòa đại sứ -- hầu như chỉ nhằm mục đích mở rộng tai nghe ngóng “ngôi chợ tình báo” - tức là Tòa thánh – giữa thời kỳ có đổi thay nhanh chóng về xã hội và chính trị tại châu Âu. Nhưng mối căng thẳng giữa Tòa thánh và cộng đồng người Mỹ theo đạo Tin lành ở Roma – họ bị bắt buộc phải rời nhà thờ ra phía bên ngoài tường thành – ngầm phá hoại mối liên lạc song phương. Vào tháng Hai năm đó, Quốc hội cắt quỹ dành cho công sứ ở Roma, chấm dứt những mối quan hệ ngoại giao đã có trên thực tế. Nhưng còn có một lý do khác nữa được người ta xác nhận: Quốc gia Vatican sắp bị thôn tính bởi binh lính của một nước Ý đang chỗi dậy. Washington coi Vatican lúc đó như một quốc gia thất bại, bên miệng hố tiêu diệt.

Mốc thứ hai là năm 1939. Năm đó, tổng thống Franklin D. Roosevelt gửi một đại diện cá nhân tới Vatican. Chính thức ra, đó là một “sứ mạng nhân đạo”, nhưng sự thật là Hoa kỳ muốn có cái nhìn gần cận một nước Ý theo chế độ Phát xít, đồng minh của Hitler ở vùng Địa trung hải. Một cuộc liên minh khác, gần như vô hình, được khai triển giữa Roosevelt và tân giáo hoàng Piô XII. Sự liên lạc giữa hai người đã được sắp xếp chu đáo từ ba năm trước do một hồng y người Mỹ là Francis Spellman. Hồng y dàn xếp để có một cuộc họp mật giữa tổng thống và vị giáo hoàng tương lai tại nhà thân mẫu của Roosevelt ở New York. Từ đó phát sinh một liên minh chống cộng sản giữa Bạch ốc và Tòa thánh, kéo dài cho tới khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt.

Tuy vậy, mối liên lạc ngoại giao đầy đủ, vẫn còn bị định mệnh trì hoãn. Các vị giáo hoàng kế nhiệm rất bất bình vì những tổng thống kế tiếp nhau, bởi lo sợ phản ứng dữ dội của người Tin lành nên không dám gửi đại sứ tới Tòa thánh. Ngay cả John F. Kennedy, vị tổng thống Công giáo duy nhất, cũng giữ cho mình không quá thân mật với Vatican.

Ngoài các trở ngại về tôn giáo và ý thức hệ, cũng còn có một sự hiểu lầm sâu xa về bản chất của Tòa thánh. Mỹ coi giáo hoàng như một diễn viên lớn trên chính trường nước Ý, chứ không phải trên sân khấu toàn cầu. Vậy mà Vatican lại là một diễn viên ưu tú đầy quyền lực mềm dẻo. Vào thập niên 1980, Vatican đã bổ nhiệm 102 đại sứ (hiện nay là 176), nhưng lại không có vị nào cạnh Hoa kỳ.

Năm tháng qua đi, hai đế quốc song hành này cùng lớn mạnh – cả hai vươn rộng khắp toàn cầu – và cùng gặp những chồng chéo, trùng lặp trên nhiều vấn đề quốc tế. Nhưng họ vẫn không công nhận nhau.

Mãi cho đến mốc thứ ba: 1984. Đó là khi tổng thống Reagan thỏa thuận gửi một đại sứ tới Vatican và tiếp nhận một sứ thần, là chức vị của Tòa thánh tương đương với cấp bậc đại sứ. Đó cũng như một loại phần thưởng dành cho sự yểm trợ mạnh mẽ và tinh tế của Vatican trong trận chiến chống “đế quốc tội ác” Liên bang Sô viết. Và Tòa thánh thoả mãn với việc Reagan và Quốc hội Mỹ đã chung cục rũ bỏ những gì được coi là tàn tích của thành kiến tôn giáo chống lại giáo hoàng.

Khi Đức Bênêđictô XVI và tổng thống Bush gặp nhau tuần này, chắc chắn không bên nào sẽ quên được lời khiển trách năm 2003 của giáo hoàng Gioan Phaolô II về chiến tranh tại Iraq. Nhưng cả hai người không ai có động cơ hoặc ước muốn lấy chân đá cho lớp bụi ấy lại tung lên. Họ có nhiều địa hạt phải cùng quan tâm chung. Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo là một đe dọa độc hại cho cả hai, mặc dầu họ thường khác biệt nhau trong phương cách đương đầu với nguy cơ đó. Người ta trông đợi Vatican sẽ đóng một vai trò then chốt trong thời kỳ chuyển đổi của Cuba ra khỏi chế độ cộng sản. Cấp thiết nhất là thúc đẩy cho việc tái tạo bầu khí bình thường ở Iraq: Bush thì vì những lý do địa lý chính trị (geopolitical, chính trị chịu ảnh hưởng của các nhân tố địa lý – ghi chú của người dịch), giáo hoàng thì vì những lý do địa lý tôn giáo (geo-religious), tức là sự hiện diện đầy hiểm nguy của thiểu số tín đồ Kitô giáo trong khu vực đó.

Ngày nay, “khu chợ tình báo” của Vatican cũng đã có giá trị mới – đó là những liên hệ chiến lược trong thế giới Hồi giáo. Mạng lưới toàn cầu của Tòa thánh gồm các linh mục, nữ tu và các nhà truyền giáo làm cho giáo hội Công giáo có tai có mắt ở những khu vực mà Hoa kỳ không hiện diện, không được tin cẩn, không được ưa chuộng.

Cuối cùng thì cuộc viếng thăm của Bênêđictô XVI tới Bạch ốc là dấu hiệu việc bình thường hoá đích thực các quan hệ giữa Hoa kỳ và Vatican, và xảy ra vào một thời điểm khó khăn cho cả hai phía. Trong một thế giới đa cực, họ không thể thực thi bá quyền được nữa, dù là chính trị hay tôn giáo. Quả thực, cả hai đều cần đến nhau.

Nguồn: Massimo Franco / Los Angeles Times

Massimo Franco là một nhà bình luận chính trị cho nhật báo Ý Corriere della Sera. Ông cũng là tác giả cuốn sách sắp xuất bản "Parallel Empires: The Vatican and the United States, Two Centuries of Alliance and Conflict” (Hai đế quốc song hành: Vatican và Hoa kỳ, Hai thế kỷ liên minh và xung đột).

Phụng Nghi

Chương trình ĐGH Benedict XVI thăm viếng Hoa Kỳ



Đồng hành với ĐTC Bênêđictô XVI thăm Washington, D.C. và New York,
(từ ngày 15 tới 20 tháng 4 năm 2008)

WASHINGTON DC - Hơn 5,000 binh sĩ đứng tề chỉnh cùng với Tổng thống Hoa Kỳ George Bush, phu nhân Laura và cô con gái Jenna đã chào đón khi máy bay Alitalia chở Đứa Giáo Hoàng Beenêdictô XVI hạ cánh tại phi trường quân sự Andrews Air Force Base sau trưa hôm nay (15/4/2008). Bà Anita McBride, chánh văn phòng của đệ nhất phu nhân Laura cho biết rằng chính và Laura Bush đã tự mình sửa soạn từng chi tiết cho cuộc đón tiếp Đức Giáo Hoàng, thiết kế chu đáo cuộc đón tiếp mà đệ nhất phu nhân đã làm như chính lời bà nói là "một dấu hiệu kính trọng, yêu mến, và tình bạn với Đức Thánh Cha". Anita nói rằng: "Tổng thống và phu nhân Bush nhận định rằng ĐGH không chỉ là vị lãnh đạo thế giới nhưng là một vị lãnh đạo của một trong những tôn giáo vĩ đạo của thế giới".

Thứ Ba, ngày 15 (Rome, Washington, D.C.)

Trưa (6 a.m. ET) Khởi hành từ Phi trường Leonardo da Vinci, Rome.
4 p.m. Tới Andrews Air Force Base, Washington, D.C.
4:14 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về Tòa Khâm Sứ Vatican tại Washington, D.C.

Thứ Tư, ngày 16 (Washington, D.C.)

Thánh Lễ và cầu nguyện riêng tại Nhà nguyện Tòa Khâm Sứ.
10:10 a.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Tòa Bạch Ốc.
10:30 a.m. Nghi lễ đón tiếp nơi sân cỏ phía Nam Tòa Bạch Ốc; ĐTC phát biểu. Tiếp kiến với Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush tại Phòng Tiếp Tân.
Trưa: Di chuyển bằng popemobile về Tòa Khâm Sứ.
1 p.m. Ăn trưa với các Hồng y Hoa Kỳ, các thành viên Ban Chấp Hành Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ và phái đoàn tháp tùng ĐTC.
4:45 p.m. Tiếp kiến các vị đại diện những cơ quan bác ái Công giáo tại Tòa Khâm Sứ.
5:00 p.m. Di chuyển bằng xe, rồi bằng popemobile tới Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, nơi có Nguyện đường Đức Mẹ La Vang.
5:45 p.m. Thánh Lễ đại trào và gặp gỡ với các Giám mục Hoa Kỳ tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội; ĐTC phát biểu.
7:30 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về Tòa Khâm Sứ.

Thứ Năm, ngày 17 (Washington, D.C.)

Gia đình TT Bush đón ĐGH Benedictô tại phi trường 15/4/2008
9 a.m. Di chuyển bằng xe hơi từ Tòa Khâm Sứ tới Nationals Park
10 a.m. Thánh Lễ tại Nationals Park; ĐTC giảng thuyết.
12:15 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về Tòa Khâm Sứ.
4:40 p.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Catholic University of America.
5 p.m. Gặp gỡ với các vị đại diện những Đại học Công giáo trên toàn quốc; ĐTC phát biểu.
6:15 p.m. Di chuyển bằng popemobile tới Trung Tâm Văn Hóa ĐTC Gioan Phaolô II.
6:30 p.m. Gặp gỡ với các vị đại diên các tôn giáo khác tại Pope John Paul Cultural Center.
7:30 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về Tòa Khâm Sứ.

Thứ Sáu, ngày 18 (Washington, D.C., New York)

Thánh Lễ và cầu nguyện riêng tại Nguyện đường Tòa Khâm Sứ.
7:50 a.m. Cám ơn các nhân viên Tòa Khâm Sứ.
8 a.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Andrews Air Force Base.
8:45 a.m. Khởi hành đi New York.
9:45 a.m. Tới Phi trường Quốc tế John F. Kennedy, New York.
10 a.m. Di chuyển bằng trực thăng tới Manhattan.
10:30 a.m. Tới sân bay Wall Street, và di chuyển bằng xe hơi tới Nhà Liên Hiệp Quốc.
10:45 a.m. Thăm Liên Hiệp Quốc. ĐTC phát biểu trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Sau đó gặp gỡ các nhân viên điều hành.
1:45 p.m. Di chuyển bằng xe hơi tới tư gia Tổng Giám mục Quan Sát Viên thường trực Vatican tại Liên Hiệp Quốc.
5:45 p.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Nhà thờ Thánh Giuse, New York.
6 p.m. Gặp gỡ Đại kết các Giáo hội Kitô; ĐTC phát biểu.
7:15 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về tư gia Tổng Giám mục Quan Sát Viên thường trực Vatican tại Liên Hiệp Quốc.
7:30 p.m. Ăn tối với các Hồng y Hoa Kỳ, các thành viên Ban Chấp Hành Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ và phái đoàn tháp tùng ĐTC.

Thứ Bảy, ngày 19 (New York)

8:45 a.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Nhà thờ Chánh Tòa Thánh Patrick.
9:15 a.m. Thánh Lễ với các Linh mục và các Tu sĩ nam nữ; ĐTC giảng thuyết.
11:30 a.m. Đi bộ tới tư gia Hồng y Tổng Giám mục New York.
Trưa. Ăn trưa với Hồng y Edward M. Egan, TGM New York, các Giám mục phụ tá và phái đoàn tháp tùng ĐTC1:15 p.m. Di chuyển bằng popemobile về tư gia Tổng Giám mục Quan Sát Viên thường trực Vatican tại Liên Hiệp Quốc.
4 p.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Đại Chủng viện Thánh Giuse, Yonders.
4:30 p.m. Gặp gỡ với các bạn trẻ và các chủng sinh; ĐTC phát biểu.
6:30 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về tư gia Tổng Giám mục Quan Sát Viên thường trực Vatican tại Liên Hiệp Quốc.

Chúa nhật, ngày 20 (New York, Rome)

9:10 a.m. Di chuyển bằng xe hơi tới Ground Zero, nơi có nhiều người chết do vụ khủng bố.
9:30 a.m. Thăm Ground Zero; ĐTC cầu nguyện trong thinh lặng.
10 a.m. Di chuyển bằng xe hơi về tư gia Tổng Giám mục Quan Sát Viên thường trực Vatican tại Liên Hiệp Quốc.
1:50 p.m. Di chuyển bằng xe hơi tới sân banh Yankee Stadium.
2:30 p.m. Thánh Lễ tại Yankee Stadium; ĐTC giảng thuyết.
4:45 p.m. Di chuyển bằng xe hơi về tư gia Tổng Giám mục Quan Sát Viên thường trực Vatican tại Liên Hiệp Quốc.
7 p.m. Di chuyển bằng xe hơi tới sân bay Wall Street.
7:20 p.m. Tới sân bay Wall Street.
7:30 p.m. Di chuyển bằng trực thăng tới Phi trường Quốc tế John F. Kennedy, New York.
8 p.m. Nghi thức từ giã. Lời cám ơn của ĐTC.
8:30 p.m. Khởi hành trở v ề Rome.

Thứ Hai, ngày 21 (Rome)
10:45 a.m. (4:45 a.m. ET) Tới Phi trường Leonardo da Vinci, Rome. Kết thúc 5 ngày viếng thăm Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc của ĐTC Bênêđictô XVI.

Monday, April 14, 2008

The Beautiful Hands of a Priest

We need them in life’s early morning,
we need them again at its close;
We feel their warm clasp of true friendship,
we seek them when tasting life’s woes.
At the altar each day we behold them
and the hands of a king on his throne
Are not equal to them in their greatness,
their dignity stands all alone;
And when we are tempted and wander
to pathways of shame and of sin,
It’s the hand of a priest will absolve
us—not once, but again and again;
And when we are taking life’s partner,
other hands may prepare us a feast,
But the hand that will bless and unite
us is the beautiful hand of a priest.
God bless them and keep them all holy
for the Host which their fingers caress;
When can a poor sinner do better than
to ask Him to guide thee and bless?
When the hour of death comes upon us,
may our courage and strength be increased
By seeing raised over us in blessing,
the beautiful hands of a priest!

Consecration to the Holy Spirit
O Holy Spirit, receive the perfect and complete consecration of my whole being.
In all my actions, grant me the grace of being my Light, my Guide, my Strength
and the Love of my heart. I surrender myself to You, and I ask of You the grace
to be faithful to Your inspirations. Holy Spirit, transform me through Mary and
with Mary into a true image of Christ Jesus, for the glory of the Father, and the
salvation of the world. Amen

Litany for Priests
For our Holy Father, Pope Benedict.
Lord, give him Your Heart of the Good Shepherd.
For the successors of the Apostles.
Lord, give them fatherly concern for their priests.
For Your Bishops chosen by the Holy Spirit.
Lord, keep them close to Your sheep.
For Your Pastors.
Lord, teach them to serve rather than to seek to be served.
For confessors and spiritual directors.
Lord, make them docile instruments of Your Spirit.
For those who announce Your Word.
Lord, let them communicate Your Spirit and Life.
For those who help the lay apostolate.
Lord, encourage them to give witness.
For those who work among the poor.
Lord, make them see and serve You in them.
For those who care for the sick.
May they teach them the value of suffering, Lord.
For poor priests.
Help them, Lord.
For sick priests.
Heal them, Lord.
For elderly priests.
Give them joyful hope, Lord.
For the sad and afflicted.
Console them, Lord.
For anxious and troubled priests.
Give them Your peace, Lord.
For the ridiculed and persecuted.
Defend their cause, Lord.
For lukewarm priests.
Inflame them, Lord.
For the discouraged.
Give them courage, Lord.
For those who aspire to the priesthood.
Give them perseverance, Lord.
To all priests.
Give them fidelity to You and Your Church, Lord.
To all priests.
Give them obedience and love for the Holy Father, Lord.
To all priests.
Let them live in communion with their Bishop,Lord.
That all priests.
Be one as You, Lord, and the Father are One.
That all priests.
May promote justice with which You, Lord, are just.
That all priests.
Collaborate in the unity of the Presbyterate, Lord.
That all priests, filled with Your presence.
Live joyfully in celibacy, Lord.
To all priests.
Grant them the fullness of Your Spirit, Lord,
and transform them into Yourself.

In a special way, I pray for those priests through whom
I have received Your graces:
I pray for the priest who baptized me and for those
who have absolved me of my sins, r
econciling me with You and with Your Church.
I pray for those priests in whose Masses
I have participated and who have given me Your Body as nourishment.
I pray for those priests who have shared Your Word with me,
and for those who have helped me and led me toYou. Amen

World Priest Day Prayer
Heavenly Father,
We come before you today to ask your blessing on our brothers,
Whom you have called to the Sacrament of Holy Orders.

Lord Jesus,
We ask that you support them with your presence
And fill them with grace to serve you faithfully.

Gracious Spirit,
Unite us in service with those whom you have called.
Open our hearts to encourage our brothers and sons to pursue your calling,
And open their hearts to hear Your call to this most Holy Sacrament.
Amen.

Saturday, April 12, 2008

"Hãy đến làm Ánh sáng cho Cha"

Đọc sách mới "Hãy đến làm Ánh sáng cho Cha" nói về Mẹ Têrêxa (Bình luận của Lm Raymond J. de Souza, báo National Post, Canada)


Khi Mẹ Têrêxa qua đời 10 năm trước đây, người ta cho rằng con đường Mẹ được chính thức tuyên phong hiển thánh sẽ mau chóng và không có nhiều biến cố.Con đường quả thực là mau chóng vì Mẹ được Đức Thánh Cha Gioan Phalô tuyên phong Chân Phước năm 2003 để một phần ghi dấu 25 năm triều đại giáo hoàng của ngài. Nhưng nó lại chẳng phải là không có nhiều biến cố. Duyệt xét tỉ mỉ các giấy tờ Mẹ để lại ta thấy một cuộc sống nội tâm ghi dấu chính yếu bằng bóng tối và khổ đau. Suốt 50 năm, cuộc sống tinh thần của Mẹ Têrêxa được ghi đậm bằng cảm nghiệm thiếu vắng Thiên Chúa. Một cuốn sách mới đề cập đến nhật ký và các thư từ của Mẹ do một linh mục người gốc Winnipeg (Canada) biên tập được phát hành ngày thứ ba (4 tháng 9). Cuốn sách có nhan đề Come Be My Light (Hãy Đến Làm Ánh Sáng của Con) tiết lộ cuộc sống ẩn dấu đó.


Mẹ Têrêxa đã viết: “Tình yêu đòi hỏi hy sinh. Nhưng nếu chúng ta yêu thương đến mức đau đớn thì Chúa sẽ ban cho ta bình an và niềm hoan lạc của Người.”Lòng yêu thương làm đau đớn? Đó có phải là một sự mâu thuẫn hay không? Không đúng chút nào cả, bậc làm cha mẹ nào cũng biết thế. Đôi khi yêu là chịu đau khổ cho người khác. Và Mẹ Têrêxa đã không miễn trừ cho chính mình sự khổ đau của những người nghèo nàn nhất trong những người nghèo mà Mẹ phục vụThế nhưng những thực tế trong cuộc sống tinh thần của Mẹ lại sâu xa hơn thế nhiều. Đối với hầu hết mọi người chúng ta, càng đến gần Chúa hơn thì ta có cảm giác bình an, thư thái và hoan lạc. Chúa ban cho chúng ta những điều an ủi đó để chúng ta không nhàm chán cuộc sống đạo đức. Nhưng chúng ta, nhờ đọc những gì các bậc thánh nhân ghi lại, mà được biết rằng đôi lúc – đối với các vị đã tiến xa trên đường nhân đức – Chúa giữ các sự an ủi đó lại để cho các vị đi tìm kiếm Chúa chỉ vì Chúa mà thôi. Đó là điều thánh Gioan Thánh giá gọi là “đêm tăm tối của linh hồn”. Nó không có nghĩa là thế giới u ám phía bên ngoài, nhưng là chính tâm hồn cảm thấy thiếu ánh sáng Chúa chiếu soi.Đó là một hình thức thanh tẩy thiêng liêng bằng đau khổ, nơi linh hồn được kéo lại gần Chúa hơn. Mà Chúa thì vô biên vô tận, và ở vô hạn ngoài các cảm giác hữu hạn của chúng ta, vì thế mà Người như có vẻ “không là gì hết cả (nothingness)” – nên mới có điệp khúc nada, nada, nada của thánh Gioan Thánh giá. Điều đó không có nghĩa Chúa không là gì cả, nhưng sự vô hạn ấy xuất hiện cách thức đó cho những linh hồn nào thấy được chỗ thâm sâu nhất. Cũng gần giống như ống kính thiên văn mạnh nhất, tầm nhìn càng xa thì bầu trời càng như trống vắng đi. Chỉ những kẻ dính chặt vào Trái đất mới thấy bầu trời dầy đặc những vì sao.Đức Tổng Giám mục Calcutta Ferdinand Périer có viết cho Mẹ Têrêxa năm 1955: “Thiên Chúa hình như ẩn mình trong một thời gian. Điều đó có thể làm ta đau đớn và nếu kéo dài sẽ trở thành việc tuẫn đạo. Vị Thánh Bông Hoa Nhỏ đã trải qua điều đó, Thánh Têrêxa Cả cũng vậy và chúng ta có thể nói hầu hết các vị thánh, nếu không muốn nói là tất cả, đều như thế.”


Tổng Giám mục Périer công nhận rằng Mẹ Têrêxa ở trong gia tộc các vị thánh quan thày của Mẹ, đó là Bông Hoa Nhỏ (Têrêxa Lisieux 1873-1897) và vị đại thánh tiến sĩ Giáo hội (Têrêxa Avila 1515-1582). Cả hai đều đã cảm nghiệm bóng đêm đen tối nơi mà Thiên Chúa dường như vắng mặt nhiều hơn là hiện diện. Đối với Mẹ Têrêxa, bóng đêm như thế là đặc tính nổi bật trong cuộc sống tinh thần của mình.“Nếu ngày nào tôi làm thánh – Chắc tôi sẽ là một vị thánh của “đêm đen”. Tôi sẽ thường xuyên vắng mặt chốn thiên đàng – để chiếu soi ánh sáng cho người còn trong tăm tối chốn trần gian.” Trong cuộc sống trường thọ, Mẹ Têrêxa đã cống hiến chính mình cho những kẻ sống trong bóng tối của cuộc đời – người nghèo, người hấp hối, người bị ruồng bỏ, kẻ vô thừa nhận. Đó là hình ảnh con người thu hút được trí tưởng tượng của mọi người và chiếm được trái tim của toàn thế giới. Thế nhưng Mẹ luôn luôn nói về sự nghèo nàn cùng cực hơn về tinh thần – nghèo nàn vì không biết Chúa và vì sống xa Người Bây giờ thì chúng ta biết rõ Mẹ cảm thấy gần gũi với các linh hồn đó bởi vì chính Mẹ cũng đã trải nghiệm sự vắng mặt của Chúa. Đúng hơn là Mẹ biết điều đó như chỉ có những người gần Chúa nhất mới biết được, như Chúa Giêsu trên thánh giá biết được khi Người kêu lên: Chúa ôi, Chúa ôi, sao Chúa bỏ con? Cũng tương tự như Mẹ đã mang ánh sáng từ bi và bác ái đến cho những người đau khổ về thể xác thì Mẹ cũng nghĩ rằng các cảm nghiệm của mình có thể giúp Mẹ mang ánh sáng của Đức Kitô đến cho những người còn trong bóng tối tinh thần.


Những lời cảm thán trong các lá thư của Mẹ – như “tăm tối”, “tôi không có đức tin”, “Chúa vắng mặt” – không cố ý dùng để công khai trình bày sự việc, nhưng là mô tả sự phấn đấu của Mẹ nhằm được thấy Chúa vượt ra ngoài những hình ảnh thư thái đối với tất cả chúng ta. Một số trình thuật mô tả điều đó một cách lúng túng, coi Mẹ Têrêxa như có điều gì gần như vô thần, điều đó rất xa sự thật.


Trên hết cả, Mẹ Têrêxa là con người thực tế về phương diện đạo đức (spiritual realist). Mẹ đã nhìn đời như đời thực là vậy, và vì thế một số người cho Mẹ là con người lý tưởng vô vọng (hopeless idealist). Mẹ đã không nhìn thấy lý tưởng trừu tượng của việc xóa đói giảm nghèo trong một tương lai xa, mà chỉ nhìn thấy thực tế của một người nghèo khó, không ai chăm sóc và cần tình yêu thương ngay ngày hôm nay, và vì thế Mẹ thu nhặt, lau chùi vết thương, và cho người đó một nụ cười trìu mến. Mẹ đã nghe Chúa Giêsu nói rằng bất cứ điều gì các con làm cho người nhỏ nhất trong những người này là các con làm cho Ta, và Mẹ đã không tìm thấy ở đó cái lý tưởng mỏng manh nào. Mẹ chỉ thấy những người cùng cực nhất và bé nhỏ nhất chung quanh mình và khám phá thấy trong con người họ Đức Giêsu “cải trang thành người khó nghèo cơ cực”.


Nay thì chúng ta đã khám phá ra rằng chủ nghĩa thực tế (realism) của Mẹ được phát sinh do giao tiếp hàng ngày với Chúa như con người thực của Chúa – không phải trong lối so sánh yếu ớt mà chúng ta dùng thay thế cho sự hiện diện của Chúa, nhưng trong sự bao la đáng kính sợ nơi sự vô hạn và lòng thương xót của Người. Mẹ Têrêxa biết về nỗi khổ đau của một Giêsu bị bỏ rơi trên thập giá, rõ ràng là bị Chúa Cha từ bỏ. Mẹ biết Đức Giêsu đó, và đó là niềm bí mật của Mẹ. Bất cứ linh hồn nào thực sự biết Đức Giêsu bị đóng đinh, thì có khả năng nhận ra những kẻ bị đóng đinh vì sự khốn khổ của thế gian này.Năm 1949 Mẹ Têrêxa viết trong nhật ký: “Họ gọi tôi là ‘người nữ tu chốn bùn lầy’. Và tôi lấy làm sung sướng chỉ được làm con người như thế để yêu mến và làm vinh danh Người.”


Phạm Hoàng Nghị

Thursday, April 10, 2008

BEYOND THE GATES

AN INSPIRATIONAL MOVIE - WORTHY TO WATCH.

Wednesday, April 9, 2008

SỐNG ĐỨC TIN VÀ HY VỌNG GIỮA MÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Chiều thứ bảy đầu tháng 1-3-2008, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gặp gỡ và lần hạt Mân Côi với các sinh viên đại học Âu và Mỹ tại Đại thính đường Phaolo VI ở nội thành Vatican. Cuộc gặp gỡ được nối qua truyền hình với 10 thành phố xuyên đại lục Âu và Mỹ: Toledo (Tây Ban Nha), Aparecida (Brazil), Loja (Ecuador), Napoli (Italia), L'Avana (Cuba), thành phố Messico (Messico), Avignon (Pháp), Washington DC (Hoa Kỳ), Bucarest (Romania), Minsk (Bielorussia - Bạch Nga).

Xin trích dịch chứng từ của 5 sinh viên về niềm Hy Vọng giữa môi trường Đại Học.

1/ Alba García Bellón sinh viên Sư Phạm đại học Castilla La Mancha ở Toledo, Tây Ban Nha.

Con tên Alba 19 tuổi và là sinh viên Sư Phạm tại đại học Toledo. Năm 14 tuổi con nhận được hồng ân khám phá Đức Chúa GIÊSU KITÔ như là Người sống động đồng hành bên con và yêu thương con bằng trọn con tim vừa nhân bản vừa thần linh của Ngài. Hồng ân diễn ra vào dịp con đi hành hương Fatima với nhóm trẻ Phong Trào Cầu Nguyện. Cùng dịp ấy con cũng khám phá ra tình yêu nhân hậu của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Đức Mẹ đưa con đến với Đức Chúa GIÊSU và nói với con: ”Đây là Con Mẹ!” Từ ngày ấy, lòng kính mến Đức Mẹ và niềm tin nơi Đức Chúa GIÊSU chan hòa mọi nẻo đường con đi và ban cho con lòng hăng say cùng niềm Hy Vọng tràn đầy.

Tức khắc con ý thức mình phải dấn thân xây dựng nền văn minh Tình Thương bất cứ nơi nào Chúa muốn con hiện diện - giữa bạn bè và nơi học đường - để giữ mãi ngọn lửa thiêng Hy Vọng. Đức Tin con được củng cố mỗi khi con sẵn sàng làm chứng cho Đức Tin.

Cầu nguyện hàng ngày, thường xuyên tham dự Thánh Lễ và lòng kính mến Đức Mẹ là những yếu tố quan trọng giúp con vững vàng tiến bước trong tuổi dậy-thì cũng như biết luôn luôn tìm kiếm đâu là thánh ý THIÊN CHÚA trong cuộc đời con.

Hiện tại con theo ngành Sư Phạm vì trước tiên, con mong rằng qua nghề dạy học, con sẽ phổ biến điều con khám phá hồi năm con 14 tuổi: ”Kẻ nào tin nơi Đức Chúa GIÊSU KITÔ và yêu mến Đức Mẹ MARIA thì sẽ sống hăng say và tràn đầy hy vọng, cùng lúc cống hiến cho nền văn hóa ngày nay các thực tại của Đức Tin”. Đức Tin là niềm Hy Vọng vững chắc như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viết trong thông điệp ”Spe Salvi - Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng”.

Con xin chân thành ghi ơn Đức Thánh Cha vì đã chỉ cho chúng con thấy Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA chính là hiền mẫu của Hy Vọng. Chúng ta hãy khẩn cầu cùng Mẹ THIÊN CHÚA dạy cho chúng ta biết yêu mến, tin tưởng và hy vọng với Con của Mẹ. Xin Đức Mẹ chỉ cho giới sinh viên biết con đường đưa đến việc thủ đắc nền giáo dục rộng lớn và vững chắc về phương diện siêu nhiên, cũng như biết phát triển một nền trí thức ngay chính. Chúng ta nên ghi nhớ rằng, ai không hành động theo Lý Trí là trái với bản tính của THIÊN CHÚA. Dưới ánh sáng niềm Hy Vọng đến từ Đức Tin, sinh viên đại học chúng con mời gọi mọi người dấn thân suy nghĩ trở lại về một tổng hợp mới mẻ giữa Đức Tin và Lý Trí hầu sống trong nền trí thức đặt nền tảng trên tình yêu thương bác ái.

2/ Alberto González Sánchez sinh viên Âm Nhạc của đại học Castilla La Mancha, Toledo, Tây Ban Nha.

Con là Alberto 23 tuổi. Con vừa kết thúc chương trình nơi đại học Toledo để trở thành giáo sư âm nhạc. Lúc con bước chân vào đại học con cảm thấy cô đơn và sợ hãi không dám công khai tuyên bố mình là tín hữu Công Giáo. Tháng 5 năm 2003 con tham dự buổi giới trẻ canh thức cầu nguyện với Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II (1978-2005) tại phi trường Cuatro Vientos ở thủ đô Madrid. Vào dịp ấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II nói với chúng con: ”Đừng sợ làm chứng cho Đức Chúa KITÔ và làm tông đồ cho Chúa chính nơi môi trường sống”. Lời Đức Thánh Cha khắc ghi trong tâm trí con và kể từ giây phút ấy con quyết tâm trở thành chứng nhân đích thực của Đức Chúa KITÔ, cả nơi môi trường đại học của con.

Ngay sau đó con ý thức mình phải học hành nghiêm chỉnh để khỏi bị ảnh hưởng bởi đủ thứ ”hy-vọng hão-huyền” đang cống hiến cho chúng con, ví dụ như ý-thức-hệ tương-đối-hóa mà Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã mạnh mẽ dạy chúng con phải vạch trần cái bộ mặt giả-tạo của thứ ”hy-vọng hão-huyền” này. Con cũng thâm hiểu rằng, Hy Vọng Kitô không chỉ dành cho riêng con mà còn cho tất cả mọi người.

Thế nhưng, con không thể gìn giữ bảo vật con đang mang trong mình, thế là con bắt đầu cầu nguyện thật nhiều cho bạn bè con và cùng lúc, không sợ hãi làm chứng bằng lời nói và hành động của con, điều mà Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viết trong thông điệp: ”Niềm Hy Vọng cao cả lớn lao nhất chính là THIÊN CHÚA mang khuôn mặt loài người. Đó là Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Ngài đã yêu thương chúng ta cho đến cùng”. Tuy nhiên, con cũng hiểu là con không thể làm điều này một mình. Vì thế, cùng với các bạn trẻ khác con tham dự các Nhóm Cầu Nguyện của Nhóm Mục Vụ Đại Học, thường tổ chức các sinh hoạt để mang Đức Chúa KITÔ đến cho mọi anh chị em đồng loại.

Ngày hôm nay, ở vào chặng cuối cùng của đại học, con có thể quả quyết: ”Đức Tin của con không suy giảm”. Trái lại, cùng với niềm Hy Vọng tràn đầy con muốn lao mình vào thế giới lao công với niềm ước nguyện chân thành là sẽ hoạt động dựa trên tri thức khôn ngoan, hầu làm tỏ rạng mầu nhiệm con người.

3/ Daniel Fassa Evangelista sinh viên Truyền Thông và Nghệ Thuật của đại học São Paulo, Brazil.

Từ thời thơ ấu con được hồng phúc sống các giá trị Kitô ngay trong gia đình. Tuy nhiên, khi ghi danh vào đại học con bị bó buộc rời xa thành phố con sinh trưởng. Nơi khung trời mới thực tại mới con không còn gặp được cách dễ dàng thứ tình yêu tự-nhiên, nhưng-không, bền-vững và sự hiện diện của THIÊN CHÚA như con từng cảm nghiệm nơi mái ấm gia đình giữa cha mẹ và anh chị em con.

Con nhận ra đã đến lúc con phải tự mình tiến bước trên con đường gặp gỡ THIÊN CHÚA. Đã đến lúc con phải tự mình quyết tâm bước theo Chúa. Rất may con gặp được bạn bè có cùng ước nguyện sống tinh thần Phúc Âm mỗi ngày nơi môi trường đại học. Nhóm sinh viên này họp nhau hàng tuần để suy gẫm, trao đổi kinh nghiệm và khuyến khích nhau sống Đức Tin Công Giáo. Con liền gia nhập Nhóm này.

Con khám phá ra rằng, trong môi trường đại học - thường có nguy cơ rơi vào cạm bẫy của chủ thuyết tương-đối-hóa và vô nghĩa - con vẫn còn may mắn gặp được những sinh viên và các vị giáo sư chân chính. Cùng với họ, con tìm kiếm cái thực-tiễn của thực-tại hầu giúp con sống chứng tá Hy Vọng, dùng trọn khả năng trí-thức để phục vụ cái thông-hiểu mới trong hoàn cảnh lịch sử hiện đại của con người. Trong lúc học hành, làm việc, nghỉ ngơi, giao tế cũng như trong từng cử chỉ và hành động, chúng con muốn đem THIÊN CHÚA đến cho thế giới. Sống Phúc Âm làm cho hoạt động trí thức của chúng con có ý nghĩa. Sống Phúc Âm đưa chúng con đến Chân Lý. Như thế, mỗi ngày, THIÊN CHÚA khơi động nơi chúng con niềm xác tín rằng, với Ngài, chúng con có thể biến đổi thế giới và xây dựng nền văn minh tình thương.

4/ Renato Andrés Samaniego Burneo sinh viên Luật Khoa đại học Công Giáo Loja, Ecuador.

Con là Renato Andrés Samaniego Burneo 21 tuổi và là con trưởng trong gia đình có 7 anh em: Santiago, Fabiana, Juan Pablo, José Eliás, María Judith và một người em quá cố đang cầu bầu cho chúng con trên Thiên Đàng. Ba Má con là Renato và Judith, tất cả đang có mặt ở đây.

Con chào đời trong một gia đình Công Giáo. Ba Má thông truyền Đức Tin cho con và kể lại rằng ngay lúc mới sinh con đã lâm trọng bệnh. Nhưng đến năm con tròn một tuổi thì bệnh tật bỗng nhiên biến mất, con được hoàn toàn lành bệnh mà các bác sĩ không hiểu lý do tại sao. Sự kiện này cho thấy THIÊN CHÚA có vài sứ mệnh trao phó cho con.

Thời gian trôi qua, sự thơ ngây của tuổi trẻ cũng dần biến mất nhường chỗ cho những thắc mắc nghi ngờ. Các ảo-ảnh của thế gian lớn mạnh trong con khiến con xa lìa Giáo Hội Công Giáo và sống y như thể THIÊN CHÚA không hề hiện hữu trong cuộc đời con. Con dại dột bán đứt quyền trưởng nam và khinh thị việc THIÊN CHÚA tuyển chọn con.

Rất may là vào một thời điểm nào đó con đã thức tỉnh và quay trở về với cuộc sống chân chính, nhờ tình thương mà Ba Má con luôn luôn dành cho con. Ba Má con dạy con hiểu rằng niềm hy vọng của thế gian thì chóng qua và gần như luôn luôn giả tạo. Ba Má cũng dạy con hiểu sở dĩ con có thể trở về đường ngay nẻo chính không phải do sức lực của riêng con mà là do ơn thánh Chúa, bởi vì không có gì mà THIÊN CHÚA không làm được. THIÊN CHÚA là ”Đấng bao trùm vũ trụ và chỉ có Ngài mới ban cho chúng ta điều mà với sức riêng mình, chúng ta không bao giờ đạt tới”. Từ đó con hiểu chúng ta được tuyển chọn để trở thành ánh sáng và muối trần gian.

Con hy vọng THIÊN CHÚA sẽ hoàn tất nơi con điều mà Ngài đã khởi đầu. Đó là THIÊN CHÚA của Sự Sống kêu gọi con trở thành chứng nhân Tình Yêu của Ngài - con, một kẻ từng kinh nghiệm thế nào là cái đen tối của cuộc sống và từng sống không có hy vọng - thì ngày hôm nay, nguyên sự kiện con có mặt tại đây để cùng với mọi người khẩn cầu cùng Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA - Ngai Tòa Khôn Ngoan - là một cơ hội để con dấn thân nơi môi trường đại học hầu bảo tồn và can đảm đề nghị với mọi người về ”cái-bội-thu” của Hy Vọng Kitô. Con cũng dấn thân đưa vào môi trường đại học cái hơi thở sự sống của mỗi một người để yêu mến và để xây dựng nền văn minh tình thương, dấu chỉ lịch sử rõ rệt của Hy Vọng.

5/ Enma Edith Salazar Orellana, sinh viên phân khoa Tin Học đại học Công Giáo Loja, Ecuador.

”Kẻ nào có niềm hy vọng thì sống cách khác: người ấy được trao tặng một cuộc sống mới. . Kẻ đó thành công trong việc nhận biết THIÊN CHÚA, THIÊN CHÚA chân thật. Điều này có nghĩa là nhận được niềm Hy Vọng”. Con người là hữu thể được ưu đãi, bởi vì mỗi ngày con người may mắn nhận được cuộc sống mới và một tương lai không bao giờ cạn.

Kẻ nào đặt niềm tin tưởng vào một cái gì cao cả, chân thật thì kẻ ấy sống tràn đầy ân thánh, mà, có lẽ không luôn luôn tỏ hiện ra bên ngoài, nhưng ngày qua ngày được lớn lên trong tâm lòng và sinh hoa kết trái dồi dào. Chỉ duy nhất THIÊN CHÚA cao cả. Chỉ duy nhất THIÊN chân thật và chỉ duy nhất nơi Ngài mà mọi hy vọng của chúng ta được hướng tới, bởi vì, chỉ như thế niềm Hy Vọng mới có một định hướng và một ý nghĩa.

Đức Tin là hồng ân cao cả mà tín hữu phải mong chờ và ước muốn với trọn lòng khiêm tốn, hồng ân mà có lẽ nhiều người không biết quý trọng. THIÊN CHÚA chỉ ban Đức Tin cho những ai có lòng khiêm tốn.

Con cũng như mọi người đều cần có niềm Hy Vọng, nhưng là niềm Hy Vọng chân thật. Không nên lãng phí thời giờ với những chuyện hời-hợt hão-huyền, bởi vì chúng ta có một sứ mệnh phải chu toàn, một sứ mệnh vừa say mê vừa khó khăn. Chúng ta nên sống với chiều kích cao cả, hướng lòng về những chuyện vĩ đại. Chúng ta cần ý thức rằng, từ hữu thể con người phát sinh hình thể một tín hữu Kitô có khả năng cống hiến Hy Vọng, sẵn sàng đặt mình - với lòng khiêm tốn - và đặt mọi dự tính của riêng mình dưới sự phán đoán của chân lý và của một hứa hẹn vượt khỏi mọi mong đợi của con người nơi trần gian này.

... ”Anh em đừng có lầm tưởng: THIÊN CHÚA không để cho người ta nhạo báng đâu! Thật vậy, ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng. Vậy bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho những anh chị em trong cùng đại gia đình Đức Tin” (Galát 6,7-10).

(Vicariato di Roma, “Europa e Americhe insieme per costruire la Civiltà dell'Amore”, Aula ”Paolo VI” 1 Marzo 2008, trang 8-10/12-18)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt